Học TậpThi THPT Quốc Gia

Văn mẫu lớp 12: Liên hệ Chiếc thuyền ngoài xa với Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài và Chữ người tử tù

Kỳ thi THPT Quốc gia đang đến rất gần, đây là lúc các bạn tập trung, tổng hợp kiến thức của mình. Hãy cùng Mobitool tham khảo tài liệu Liên hệ Chiếc thuyền ngoài xa với Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài và Chữ người tử tù.

Tài liệu bao gồm dàn ý chi tiết kèm theo bài văn mẫu, giúp các bạn lớp 12 có thêm nhiều gợi ý để viết văn ngày một hay hơn. Bên cạnh đó các bạn tham khảo thêm nhiều bài văn hay khác tại chuyên mục Văn 12.

Liên hệ Chiếc thuyền ngoài xa với Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật Phùng qua những phát hiện của anh (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016). Từ đó liên hệ với nhân vật Vũ Như Tô qua đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ văn 11, tập 1, NXB giáo dục Việt Nam, 2016) để làm rõ quan niệm về nghệ thuật và cách nhìn nhận cuộc sống của các nhà văn.

GỢI Ý

1) Giới thiệu vài nét cơ bản về tác giả và tác phẩm. (0,5 điểm)

2) Yêu cầu cơ bản: Phân tích nhân vật Phùng (2,0 điểm)

– Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề

+ Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào.

+ Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh ưng ý.

+ Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì công việc.

– Phùng là một nghệ sĩ tài năng:

  • Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật:
  • Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”.
  • “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”.
  • “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
  • Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh sáng. Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát bằng đôi mắt tinh tường, “nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà giữa thiên nhiên, cảnh vật, con người – vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần.

– Phùng là người nghệ sĩ thật sự rung cảm trước cái đẹp:

  • Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình.
  • Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “ bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.
  • Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời.

– Phùng là người có tấm lòng nhân hậu:

  • Chưa thoả thuê ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” thì ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào nơi Phùng đứng.
  • Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau… Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
  • Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ .
  • Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc ác … Hành động của Phùng cho thấy anh không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác. Hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại trong cuộc sống.

– Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:

  • Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh người đàn ông đáng vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.
  • Đằng sau bức ảnh như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao số phận, bao mảnh đời éo le.
  • Để Phùng chứng kiến hành động vũ phu của người chồng, Nguyễn Minh Châu muốn phê phán tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương đại.
  • Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo, lạc hậu.
  • Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để hoàn thiện nhân cách của mình.

3) Yêu cầu nâng cao:

*Liên hệ nhân vật Vũ Như Tô (0,5 điểm)

Vũ Như Tô được biết đến qua đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là một kiến trúc sư thiên tài và khát vọng nghệ thuật siêu phàm, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Nhưng ông là một nghệ sĩ có nhân cách và có lý tưởng nghệ thuật hết sức cao đẹp, không phải là người ham sống sợ chết hay chỉ vì chút công danh mà phải bán thân mình cho nghệ thuật. Lúc đầu, ông nhất định thà chết chứ không xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua bạo ngược, nhưng khi nhận ra giá trị nghệ thuật để lại cho đời thì ông lại quên mất một thực tế là dân chúng đang đói khổ.

Cửu Trùng Đài càng xây cao bao nhiêu thì mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của nhân dân ngày càng tăng lên bấy nhiêu. Vũ Như Tô càng quyết tâm xây dựng Cửu Trùng Đài thì các mâu thuẫn ngày càng theo đó mà khó giải quyết và Đan Thiềm càng khuyến khích Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài thì xung đột giữa người nông dân và con người nghệ thuật ngày càng tăng cao. Có thể nói đó là một khát vọng hết sức chân chính nhưng nó được đặt không đúng chỗ , không kịp thời, không tính đến giá trị cuộc sống thì nghiễm nhiên chính nó sẽ tự trở thành tai họa. Trong việc xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là phạm nhân và cũng vừa là nạn nhân. Diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô và Đan Thiềm mặc dù được giải quyết nhưng không được thỏa đáng. Vũ Như Tô bị giết mặc dù trong thâm tâm ông không hề có ý định hại dân, khi chết ông vẫn chưa nhận ra được sai lầm của mình. Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những vấn đề sâu sắc và có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thực và trực tiếp của nhân dân.

*Nhận xét quan niệm về nghệ thuật và cách nhìn cuộc sống của nhà văn NMC (0,5 điểm)

  • Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, phục vụ cuộc sống, nếu nghệ thuật xa rời cuộc sống thì chỉ đem đến bi kịch (cái chết của Vũ Như Tô) hay sự nhìn nhận phiến diện về cuộc sống (Phùng).
  • Nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống nhưng cuộc sống ko phải lúc nào cũng đẹp.
  • Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống. Nghệ thuật xa rời cuộc sống chỉ là nghệ thuật “suông” , ko xứng đáng là nghệ thuật chân chính.

→Điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết tìm tòi, khám phá cuộc sống, tìm hiểu nó trên nhiều phương diện, nghệ sĩ chân chính cũng giống như nghệ thuật chân chính ko được xa rời cuộc sống.

* Không mắc lỗi về ngữ pháp, ngữ nghĩa (0,25 điểm)

* Sáng tạo (0,5 điểm)

BÀI VĂN MẪU

Nghệ thuật luôn xuất hiện từ góc nhìn phù hợp. Đúng vậy, khi nói đến nghệ thuật, chúng ta không thể không nhắc đến cuộc sống vì hai điều luôn gắn liền với nhau. Mặc dù hai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Minh Châu đã viết hai tác phẩm ở hai giai đoạn khác nhau, nhưng họ có cùng một khái niệm về nghệ thuật. Ý tưởng đó được thể hiện qua hình ảnh hai nhân vật Phùng trong chiếc thuyền xa và Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

Hai nhà văn đã xây dựng hai nhân vật có những điểm tương đồng ngẫu nhiên và khéo léo. Nhờ đó, những viên ngọc trai ẩn giấu trong sâu thẳm tâm hồn con người được họ tìm thấy và phát triển.

Đầu tiên là Nguyễn Minh Châu, ông được coi là một trong những nhà văn tiên phong trong đổi mới văn học, mà ông luôn coi là bắt nguồn từ thực tế của cuộc sống. Nhờ đó, nhân vật Phùng được sinh ra thông qua cây bút của chính mình.

Phùng là một nhiếp ảnh gia, theo yêu cầu của trưởng khoa, anh phải chụp ảnh để đăng lên lịch cuối năm, sau nhiều ngày tìm kiếm, anh bắt gặp hình ảnh chiếc thuyền trên bờ biển trong một buổi sáng sương mù trắng sữa với một chút màu hồng từ ánh sáng mặt trời.

Quá thăng hoa trong cảm xúc của mình khi phát hiện ra một bức tranh mực của một họa sĩ cổ đại, anh nhanh chóng chụp máy ảnh và có được những bức ảnh không dễ có được trong đời sống nghệ thuật.

Chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa Đẩu, một đồng đội cũ hiện là chánh án tòa án huyện, và người phụ nữ nghèo làng chài, Phùng nhận ra rằng người phụ nữ phải chịu đựng một người chồng nhưng lại từ chối giải thoát khỏi con người vũ phu này là vì tình yêu vô biên của bà dành cho con cái.

Phùng mỉm cười cay đắng nhận ra rằng đằng sau khung cảnh thơ mộng có rất nhiều nơi mặt trái trong cuộc sống hàng ngày mà anh chưa hiểu đầy đủ. Người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh. Rất lâu sau, nó vẫn được treo ở nhiều nơi, đặc biệt là những người sành nghệ thuật và gia đình. Nhưng mỗi lần nhìn kỹ bức ảnh, cảm xúc của anh luôn bị lẫn lộn.

Tình huống được tạo ra từ cây bút của ông là sự tương phản giữa nghệ thuật và cuộc sống, nghệ thuật ở xa và cuộc sống rất gần gũi, nghệ thuật rất đẹp nhưng cuộc sống đầy bất công.

Ông cho độc giả thấy một cái nhìn đa chiều về cuộc sống, Chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng hiểu nhiều điều về con người, về cuộc sống khi chứng kiến câu chuyện và tiếp xúc với người đàn bà hàng chài. Kể từ đó, ông mở ra những vấn đề mới, cực kỳ triết học cho sự sáng tạo và nghệ thuật.

Tiếp theo là Nguyễn Huy Tưởng, một nhà văn có xu hướng khai thác đề tài lịch sử, ông có nhiều đóng góp nổi bật trong thể loại tiểu thuyết và kịch, một trong những vở kịch để lại ấn tượng sâu sắc nhất với độc giả. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, thông qua nhân vật Vũ Như Tô chúng ta có thể thấy được mối quan hệ thân thiết giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Vũ Như Tô được biết đến với công việc là một kiến trúc sư thiên tài và đam mê nghệ thuật, và buộc phải xây dựng Cửu Trùng Đài bằng công sức và nước mắt của quân đội Lê Tương Dực như một nơi để thưởng thức và chơi bời với các quý cô.

Nhưng anh ấy là một nghệ sĩ có tính cách và lý tưởng nghệ thuật rất đẹp, không phải là một người tham sống sợ chết hay chỉ vì một chút danh tiếng, mà phải bán mình cho nghệ thuật. Lúc đầu, ông chắc chắn thà chết còn hơn xây dựng Cửu Trùng Đài cho vị vua bạo chúa, nhưng khi ông nhận ra giá trị nghệ thuật còn lại cho cuộc sống, ông đã quên mất sự thật rằng mọi người đang đói.

Cửu Trùng Đài càng cao, mồ hôi, nước mắt và xương của mọi người càng ngày càng tăng. Vũ Như Tô càng quyết tâm xây dựng Cửu Trùng Đài, càng ngày càng có nhiều mâu thuẫn trở nên khó giải quyết, mâu thuẫn giữa người nông dân và người đàn ông nghệ thuật ngày càng trở nên nhiều hơn. Có thể nói rằng đó là một mong muốn rất chân chính, nhưng nó không ở đúng nơi, không đúng thời điểm, bất kể giá trị của cuộc sống cũng sẽ trở thành một thảm họa.

Trong quá trình xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tù nhân vừa là nạn nhân. Những diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô và Đan Phượng, dù đã được giải quyết nhưng chưa thỏa đáng. Vũ Như Tô đã bị giết mặc dù không có ý định làm hại những người trong trái tim mình, nhưng khi ông qua đời, ông vẫn không nhận ra sai lầm của mình.

Qua bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đặt ra những vấn đề sâu sắc và vĩnh cửu về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lý tưởng nghệ thuật tinh khiết của sự vĩnh cửu và lợi ích thiết thực và trực tiếp của nhân dân.

Cả hai tác phẩm này đều xây dựng một nhân vật hết lòng đam mê nghệ thuật, nhưng chỉ vì sự đối lập chưa rõ ràng nhưng dẫn đến kết quả đáng buồn. Nghệ sĩ Phùng nhìn thấy nhược điểm của vụ việc và kịp thời sửa chữa nó, nhưng Vũ Như Tô đã phải lấy giá nghệ thuật để đổi lấy cuộc sống của chính mình.

Mặc dù được viết trong hai bối cảnh xã hội khác nhau, văn hóa trong đó các chủ đề tồn tại là khác nhau và phong cách của hai nhà văn cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai đều có một điểm chung cho thấy thẻ nghệ thuật. Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, phục vụ cuộc sống, nếu nghệ thuật xa đời, xa rời quần chúng thì nó sẽ chỉ mang đến bi kịch bi thảm như của Vũ Như Tô hay cái nhìn hời hợt về cuộc đời người nghệ sĩ Phùng.

Mặc dù nghệ thuật là vẻ đẹp của cuộc sống, nhưng nó không phải lúc nào cũng đẹp. Mặt sau của huy chương rạng rỡ luôn gồ ghề và nhược điểm. Ngoài ra, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật suốt đời, phục vụ cuộc sống, nghệ thuật xa cuộc sống chỉ là nghệ thuật đơn giản, không xứng đáng với nghệ thuật chân chính, đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết khám phá cuộc sống, hiểu nó theo nhiều cách. Nghệ sĩ thực sự giống như nghệ thuật và nghệ thuật thực sự luôn vì lợi ích của con người, không chỉ cho nghệ thuật. Như Tố Hữu từng tâm sự:

Nhân dân là bể
Văn nghệ là thuyền
Thuyền xô sóng dậy
Sóng đẩy thuyền lên

Liên hệ bức ảnh nghệ thuật thuyền và biển với cảnh cho chữ

Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về bức ảnh nghệ thuật thuyền và biển mà Phùng đã chụp được trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam). Từ đó, liên hệ với cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam) để nhận xét quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn.

GỢI Ý

a)(0,5 điểm) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b) (0,5 điểm) Xác định đúng vấn đề nghị luận:

– Cảm nhận về bức ảnh nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài ха.

– Liên hệ với cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù.

– Nhận xét quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn.

c) Triển khai vấn đề nghị luận thành nhiều luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng:

*Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận (0,5 điểm)

*Cảm nhận về bức ảnh nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa (2,0 điểm) xa.

– Hoàn cảnh sáng tác bức ảnh nghệ thuật: Sau mấy buổi sáng phục kích, Phùng phát hiện ra một cảnh đất trời cho về chiếc thuyền lưới vó lúc bình minh trên mặt biển mờ sương, anh đã bấm máy ảnh để thu vào ống kính cảnh đẹp tuyệt vời đó của tạo hóa. Từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến cho người nghệ sĩ khám phá ra cái chân lí của sự toàn thiện: bản thân cái đẹp chính là đạo đức.

– Sự thật đằng sau bức ảnh nghệ thuật: Là cái xấu, cái ác, cái trái ngang, nghịch lí của bạo lực gia đình. Có thể nói, chính bị kịch gia đình thuyền chải là thứ thuốc rửa ảnh quái đản để giúp Phùng nhận ra vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.

– Tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra từ tấm ảnh. Qua hai chi tiết này, Nguyễn Minh Châu gửi gắm thông điệp về cái đẹp nghệ thuật. Cái đẹp, nghệ thuật đích thực không bao giờ tách rời cuộc sống của con người, người nghệ sĩ chân chính không chỉ phản ánh cái đẹp lãng mạn như chiếc thuyền ngoài xa mà phải phản ánh được chiều sâu của cái đẹp trong cuộc sống và con người.

*Liên hệ với cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù (0,5 điểm)

– Cảnh cho chữ là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Cảnh cho chữ được nhà văn khắc họa đầy ấn tượng, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ trên tấm lụa trắng: quản ngục và thơ lại thì run run bế chậu mực, khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ…

– Sau khi cho chữ, Huấn Cao còn đưa ra lời khuyên bảo chí tình với viên Quản ngục: Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay đổi chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lua trắng với những nét chữ vuông tươi tắn,…

+ Cảnh cho chữ thể hiện quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Cái đẹp và thiên lương cao cả có thể được sinh ra và tỏa sáng cả những nơi tăm tối, nơi mà cái xấu, cái ác ngự trị. Cái đẹp là bất diệt. Cái đẹp sẽ thanh lọc tâm hồn con người. Nó mãi mãi là một lí tưởng nhân văn cao cả.

*Quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn (0,5 điểm)

– Nét tương đồng: Cả hai nhà văn đều quan niệm cái đẹp phải gắn liền với cái thiện.(bản thân của cái đẹp chính là đạo đức; cái đẹp gắn liền với thiên lượng lành vững)

– Nét khác biệt:

+ Với Nguyễn Tuân, cái đẹp có thể sinh ra từ chốn ngục tù, nơi cái xấu, cái ác ngư trị, nhưng cái đẹp là một phạm trù tách bạch, đối lập hoàn toàn với cái lem luốc của cuộc đời.

+ Với Nguyễn Minh Châu, cái đẹp hòa lẫn trong cuộc đời xù xì, lâm láp và còn nhiều ngang trái đớn đau. Cái đẹp đích thực không bao giờ tách rời cuộc sống đời thường, người nghệ sĩ chân chính phải biết nâng niu cái đẹp đó, để nó có thể tỏa sáng ngay cả trong bóng tối của sự khổ đau.

* Đánh giá chung: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm riêng về cái đẹp, về nghệ thuật. Quan niệm ấy thể hiện nét đẹp tâm hồn và tài năng của họ. (0,25 điểm)

d) (0,25 điểm) Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

e) (0,25 điểm) Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Để củng cố thêm kiến thức môn Ngữ Văn các bạn thí sinh có thể tham khảo thêm một số tài liệu ôn thi thpt quốc gia môn Văn sau đây:

Tuyển tập 30 đề nghị luận văn học dạng so sánh ôn thi THPT quốc gia 2018

11 đề tham khảo môn Văn chốt thi THPT Quốc gia 2018

Tổng hợp kiến thức những tác phẩm văn học sẽ có trong đề thi THPT quốc gia 2018

Kỳ thi THPT Quốc gia đang đến rất gần, đây là lúc các bạn tập trung, tổng hợp kiến thức của mình. Hãy cùng Mobitool tham khảo tài liệu Liên hệ Chiếc thuyền ngoài xa với Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài và Chữ người tử tù.

Tài liệu bao gồm dàn ý chi tiết kèm theo bài văn mẫu, giúp các bạn lớp 12 có thêm nhiều gợi ý để viết văn ngày một hay hơn. Bên cạnh đó các bạn tham khảo thêm nhiều bài văn hay khác tại chuyên mục Văn 12.

Liên hệ Chiếc thuyền ngoài xa với Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật Phùng qua những phát hiện của anh (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu, Ngữ văn 12, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016). Từ đó liên hệ với nhân vật Vũ Như Tô qua đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – trích Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ văn 11, tập 1, NXB giáo dục Việt Nam, 2016) để làm rõ quan niệm về nghệ thuật và cách nhìn nhận cuộc sống của các nhà văn.

GỢI Ý

1) Giới thiệu vài nét cơ bản về tác giả và tác phẩm. (0,5 điểm)

2) Yêu cầu cơ bản: Phân tích nhân vật Phùng (2,0 điểm)

– Phùng là người yêu nghề, có trách nhiệm với nghề

+ Anh đã phục kích mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào.

+ Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm anh mới chụp được bức ảnh ưng ý.

+ Phùng không đơn giản, qua loa với công việc mà anh luôn hết lòng vì công việc.

– Phùng là một nghệ sĩ tài năng:

  • Anh đã phát hiện bức tranh thiên nhiên giàu giá trị nghệ thuật:
  • Trước mặt Phùng là một khung cảnh thiên nhiên như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”.
  • “Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng của mặt trời chiếu vào”.
  • “Vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ”.
  • Khung cảnh được nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới giữa hai chiếc gọng vó giống hệt “cánh một con dơi”, đẹp từ đường nét đến ánh sáng. Phùng là người nghệ sĩ săn tìm cái đẹp. Anh thực sự biết quan sát bằng đôi mắt tinh tường, “nhà nghề” để lựa chọn cái đẹp hài hoà giữa thiên nhiên, cảnh vật, con người – vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ gặp một lần.

– Phùng là người nghệ sĩ thật sự rung cảm trước cái đẹp:

  • Cái đẹp đã làm Phùng xúc động và nhận ra sự rung cảm của tâm hồn mình.
  • Anh liên tưởng tới câu nói của ai đó “ bản thân cái đẹp chính là đạo đức”.
  • Và tưởng chính mình vừa khám phá “cái chân lí của sự hoàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”. Người nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc khi khám phá và sáng tạo, khi cảm nhận cái đẹp hài hoà, lãng mạn giữa thiên nhiên và cuộc đời. Trong hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” giữa biển trời mờ sương, Phùng đã cảm nhận cái đẹp toàn bích và thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong trẻo, tinh khôi. Từ đây, ta thấy người nghệ sĩ phải là người phát hiện và mang cái đẹp đến cho đời.

– Phùng là người có tấm lòng nhân hậu:

  • Chưa thoả thuê ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” thì ngay lúc ấy, chiếc thuyền đâm thẳng vào nơi Phùng đứng.
  • Người nghệ sĩ đã tận mắt chứng kiến: từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ bước ra một người đàn bà xấu xí, một lão đàn ông thô kệch, dữ dằn, đánh vợ như một phương cách để giải tỏa những uất ức, khổ đau… Đây là hình ảnh đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên biển. Nó hiện ra bất ngờ, trớ trêu như trò đùa quái ác của cuộc sống.
  • Chứng kiến cảnh ấy, Phùng đã “kinh ngạc đến mức (…) há mồm ra mà nhìn” rồi sau đó thì “vứt chiếc máy ảnh xuống đất, chạy nhào tới”. Nhưng anh chưa kịp xông ra thì thằng Phác (con lão đàn ông) đã kịp tới để che chở cho người mẹ .
  • Đến lần thứ hai, bản chất người lính ở người nghệ sĩ được thể hiện. Anh xông ra buộc lão đàn ông phải chấm dứt hành động độc ác … Hành động của Phùng cho thấy anh không thể làm ngơ trước sự bạo hành của cái ác. Hoá ra đằng sau cái đẹp “toàn bích, toàn thiện” mà anh vừa bắt gặp trên mặt biển xa lại chẳng phải là “đạo đức”, là “chân lí của sự toàn thiện” mà nó là những ngang trái, xấu xa, những bi kịch còn tồn tại trong cuộc sống.

– Phùng luôn ý thức để hoàn thiện nhân cách:

  • Tận mắt chứng kiến vẻ đẹp của bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa”, cảnh người đàn ông đáng vợ và khi lắng nghe câu chuyện của người đàn bà ở toà án (vì tình thương con, vì ý thức phải sống cho con, vì mong nuôi con cho đến khi khôn lớn mà chị chấp nhận gánh lấy cái khổ), Phùng nhận thức rất nhiều điều qua các cảnh ấy.
  • Đằng sau bức ảnh như “bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ” là những điều nghịch lý trong cuộc sống đời thường với biết bao số phận, bao mảnh đời éo le.
  • Để Phùng chứng kiến hành động vũ phu của người chồng, Nguyễn Minh Châu muốn phê phán tình trạng bạo lực trong gia đình, một mảng tối của xã hội đương đại.
  • Phùng đã hiểu về người đàn bà hàng chài kia: Ẩn bên trong sự xấu xí, nhẫn nhục là vẻ đẹp tình mẫu tử đầy vị tha, là khát khao hạnh phúc bình dị đời thường của người phụ nữ còn đói nghèo, lạc hậu.
  • Nỗi trăn trở của Phùng trong nhiều năm dài về hình ảnh người đàn bà hàng chài cứ hiện ra sau mỗi lần anh ngắm bức ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” chính là quá trình tự ý thức của Phùng để hoàn thiện nhân cách của mình.

3) Yêu cầu nâng cao:

*Liên hệ nhân vật Vũ Như Tô (0,5 điểm)

Vũ Như Tô được biết đến qua đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là một kiến trúc sư thiên tài và khát vọng nghệ thuật siêu phàm, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Nhưng ông là một nghệ sĩ có nhân cách và có lý tưởng nghệ thuật hết sức cao đẹp, không phải là người ham sống sợ chết hay chỉ vì chút công danh mà phải bán thân mình cho nghệ thuật. Lúc đầu, ông nhất định thà chết chứ không xây dựng Cửu Trùng Đài cho tên vua bạo ngược, nhưng khi nhận ra giá trị nghệ thuật để lại cho đời thì ông lại quên mất một thực tế là dân chúng đang đói khổ.

Cửu Trùng Đài càng xây cao bao nhiêu thì mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của nhân dân ngày càng tăng lên bấy nhiêu. Vũ Như Tô càng quyết tâm xây dựng Cửu Trùng Đài thì các mâu thuẫn ngày càng theo đó mà khó giải quyết và Đan Thiềm càng khuyến khích Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài thì xung đột giữa người nông dân và con người nghệ thuật ngày càng tăng cao. Có thể nói đó là một khát vọng hết sức chân chính nhưng nó được đặt không đúng chỗ , không kịp thời, không tính đến giá trị cuộc sống thì nghiễm nhiên chính nó sẽ tự trở thành tai họa. Trong việc xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là phạm nhân và cũng vừa là nạn nhân. Diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô và Đan Thiềm mặc dù được giải quyết nhưng không được thỏa đáng. Vũ Như Tô bị giết mặc dù trong thâm tâm ông không hề có ý định hại dân, khi chết ông vẫn chưa nhận ra được sai lầm của mình. Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những vấn đề sâu sắc và có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu thuần túy của muôn đời với lợi ích thiết thực và trực tiếp của nhân dân.

*Nhận xét quan niệm về nghệ thuật và cách nhìn cuộc sống của nhà văn NMC (0,5 điểm)

  • Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, phục vụ cuộc sống, nếu nghệ thuật xa rời cuộc sống thì chỉ đem đến bi kịch (cái chết của Vũ Như Tô) hay sự nhìn nhận phiến diện về cuộc sống (Phùng).
  • Nghệ thuật là cái đẹp của cuộc sống nhưng cuộc sống ko phải lúc nào cũng đẹp.
  • Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật vì cuộc sống, phục vụ cho cuộc sống. Nghệ thuật xa rời cuộc sống chỉ là nghệ thuật “suông” , ko xứng đáng là nghệ thuật chân chính.

→Điều đó đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết tìm tòi, khám phá cuộc sống, tìm hiểu nó trên nhiều phương diện, nghệ sĩ chân chính cũng giống như nghệ thuật chân chính ko được xa rời cuộc sống.

* Không mắc lỗi về ngữ pháp, ngữ nghĩa (0,25 điểm)

* Sáng tạo (0,5 điểm)

BÀI VĂN MẪU

Nghệ thuật luôn xuất hiện từ góc nhìn phù hợp. Đúng vậy, khi nói đến nghệ thuật, chúng ta không thể không nhắc đến cuộc sống vì hai điều luôn gắn liền với nhau. Mặc dù hai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và Nguyễn Minh Châu đã viết hai tác phẩm ở hai giai đoạn khác nhau, nhưng họ có cùng một khái niệm về nghệ thuật. Ý tưởng đó được thể hiện qua hình ảnh hai nhân vật Phùng trong chiếc thuyền xa và Vũ Như Tô trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài.

Hai nhà văn đã xây dựng hai nhân vật có những điểm tương đồng ngẫu nhiên và khéo léo. Nhờ đó, những viên ngọc trai ẩn giấu trong sâu thẳm tâm hồn con người được họ tìm thấy và phát triển.

Đầu tiên là Nguyễn Minh Châu, ông được coi là một trong những nhà văn tiên phong trong đổi mới văn học, mà ông luôn coi là bắt nguồn từ thực tế của cuộc sống. Nhờ đó, nhân vật Phùng được sinh ra thông qua cây bút của chính mình.

Phùng là một nhiếp ảnh gia, theo yêu cầu của trưởng khoa, anh phải chụp ảnh để đăng lên lịch cuối năm, sau nhiều ngày tìm kiếm, anh bắt gặp hình ảnh chiếc thuyền trên bờ biển trong một buổi sáng sương mù trắng sữa với một chút màu hồng từ ánh sáng mặt trời.

Quá thăng hoa trong cảm xúc của mình khi phát hiện ra một bức tranh mực của một họa sĩ cổ đại, anh nhanh chóng chụp máy ảnh và có được những bức ảnh không dễ có được trong đời sống nghệ thuật.

Chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa Đẩu, một đồng đội cũ hiện là chánh án tòa án huyện, và người phụ nữ nghèo làng chài, Phùng nhận ra rằng người phụ nữ phải chịu đựng một người chồng nhưng lại từ chối giải thoát khỏi con người vũ phu này là vì tình yêu vô biên của bà dành cho con cái.

Phùng mỉm cười cay đắng nhận ra rằng đằng sau khung cảnh thơ mộng có rất nhiều nơi mặt trái trong cuộc sống hàng ngày mà anh chưa hiểu đầy đủ. Người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh. Rất lâu sau, nó vẫn được treo ở nhiều nơi, đặc biệt là những người sành nghệ thuật và gia đình. Nhưng mỗi lần nhìn kỹ bức ảnh, cảm xúc của anh luôn bị lẫn lộn.

Tình huống được tạo ra từ cây bút của ông là sự tương phản giữa nghệ thuật và cuộc sống, nghệ thuật ở xa và cuộc sống rất gần gũi, nghệ thuật rất đẹp nhưng cuộc sống đầy bất công.

Ông cho độc giả thấy một cái nhìn đa chiều về cuộc sống, Chánh án Đẩu và nghệ sĩ Phùng hiểu nhiều điều về con người, về cuộc sống khi chứng kiến câu chuyện và tiếp xúc với người đàn bà hàng chài. Kể từ đó, ông mở ra những vấn đề mới, cực kỳ triết học cho sự sáng tạo và nghệ thuật.

Tiếp theo là Nguyễn Huy Tưởng, một nhà văn có xu hướng khai thác đề tài lịch sử, ông có nhiều đóng góp nổi bật trong thể loại tiểu thuyết và kịch, một trong những vở kịch để lại ấn tượng sâu sắc nhất với độc giả. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, thông qua nhân vật Vũ Như Tô chúng ta có thể thấy được mối quan hệ thân thiết giữa nghệ thuật và cuộc sống.
Vũ Như Tô được biết đến với công việc là một kiến trúc sư thiên tài và đam mê nghệ thuật, và buộc phải xây dựng Cửu Trùng Đài bằng công sức và nước mắt của quân đội Lê Tương Dực như một nơi để thưởng thức và chơi bời với các quý cô.

Nhưng anh ấy là một nghệ sĩ có tính cách và lý tưởng nghệ thuật rất đẹp, không phải là một người tham sống sợ chết hay chỉ vì một chút danh tiếng, mà phải bán mình cho nghệ thuật. Lúc đầu, ông chắc chắn thà chết còn hơn xây dựng Cửu Trùng Đài cho vị vua bạo chúa, nhưng khi ông nhận ra giá trị nghệ thuật còn lại cho cuộc sống, ông đã quên mất sự thật rằng mọi người đang đói.

Cửu Trùng Đài càng cao, mồ hôi, nước mắt và xương của mọi người càng ngày càng tăng. Vũ Như Tô càng quyết tâm xây dựng Cửu Trùng Đài, càng ngày càng có nhiều mâu thuẫn trở nên khó giải quyết, mâu thuẫn giữa người nông dân và người đàn ông nghệ thuật ngày càng trở nên nhiều hơn. Có thể nói rằng đó là một mong muốn rất chân chính, nhưng nó không ở đúng nơi, không đúng thời điểm, bất kể giá trị của cuộc sống cũng sẽ trở thành một thảm họa.

Trong quá trình xây dựng Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tù nhân vừa là nạn nhân. Những diễn biến mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô và Đan Phượng, dù đã được giải quyết nhưng chưa thỏa đáng. Vũ Như Tô đã bị giết mặc dù không có ý định làm hại những người trong trái tim mình, nhưng khi ông qua đời, ông vẫn không nhận ra sai lầm của mình.

Qua bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đặt ra những vấn đề sâu sắc và vĩnh cửu về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lý tưởng nghệ thuật tinh khiết của sự vĩnh cửu và lợi ích thiết thực và trực tiếp của nhân dân.

Cả hai tác phẩm này đều xây dựng một nhân vật hết lòng đam mê nghệ thuật, nhưng chỉ vì sự đối lập chưa rõ ràng nhưng dẫn đến kết quả đáng buồn. Nghệ sĩ Phùng nhìn thấy nhược điểm của vụ việc và kịp thời sửa chữa nó, nhưng Vũ Như Tô đã phải lấy giá nghệ thuật để đổi lấy cuộc sống của chính mình.

Mặc dù được viết trong hai bối cảnh xã hội khác nhau, văn hóa trong đó các chủ đề tồn tại là khác nhau và phong cách của hai nhà văn cũng hoàn toàn khác nhau, nhưng cả hai đều có một điểm chung cho thấy thẻ nghệ thuật. Nghệ thuật phải gắn liền với cuộc sống, phục vụ cuộc sống, nếu nghệ thuật xa đời, xa rời quần chúng thì nó sẽ chỉ mang đến bi kịch bi thảm như của Vũ Như Tô hay cái nhìn hời hợt về cuộc đời người nghệ sĩ Phùng.

Mặc dù nghệ thuật là vẻ đẹp của cuộc sống, nhưng nó không phải lúc nào cũng đẹp. Mặt sau của huy chương rạng rỡ luôn gồ ghề và nhược điểm. Ngoài ra, nghệ thuật chân chính là nghệ thuật suốt đời, phục vụ cuộc sống, nghệ thuật xa cuộc sống chỉ là nghệ thuật đơn giản, không xứng đáng với nghệ thuật chân chính, đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết khám phá cuộc sống, hiểu nó theo nhiều cách. Nghệ sĩ thực sự giống như nghệ thuật và nghệ thuật thực sự luôn vì lợi ích của con người, không chỉ cho nghệ thuật. Như Tố Hữu từng tâm sự:

Nhân dân là bể
Văn nghệ là thuyền
Thuyền xô sóng dậy
Sóng đẩy thuyền lên

Liên hệ bức ảnh nghệ thuật thuyền và biển với cảnh cho chữ

Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về bức ảnh nghệ thuật thuyền và biển mà Phùng đã chụp được trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu (Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam). Từ đó, liên hệ với cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam) để nhận xét quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn.

GỢI Ý

a)(0,5 điểm) Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

b) (0,5 điểm) Xác định đúng vấn đề nghị luận:

– Cảm nhận về bức ảnh nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài ха.

– Liên hệ với cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù.

– Nhận xét quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn.

c) Triển khai vấn đề nghị luận thành nhiều luận điểm, vận dụng tốt các thao tác lập luận, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng:

*Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận (0,5 điểm)

*Cảm nhận về bức ảnh nghệ thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa (2,0 điểm) xa.

– Hoàn cảnh sáng tác bức ảnh nghệ thuật: Sau mấy buổi sáng phục kích, Phùng phát hiện ra một cảnh đất trời cho về chiếc thuyền lưới vó lúc bình minh trên mặt biển mờ sương, anh đã bấm máy ảnh để thu vào ống kính cảnh đẹp tuyệt vời đó của tạo hóa. Từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến cho người nghệ sĩ khám phá ra cái chân lí của sự toàn thiện: bản thân cái đẹp chính là đạo đức.

– Sự thật đằng sau bức ảnh nghệ thuật: Là cái xấu, cái ác, cái trái ngang, nghịch lí của bạo lực gia đình. Có thể nói, chính bị kịch gia đình thuyền chải là thứ thuốc rửa ảnh quái đản để giúp Phùng nhận ra vẻ đẹp khuất lấp của người đàn bà hàng chài.

– Tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai, và nếu nhìn lâu hơn bao giờ cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra từ tấm ảnh. Qua hai chi tiết này, Nguyễn Minh Châu gửi gắm thông điệp về cái đẹp nghệ thuật. Cái đẹp, nghệ thuật đích thực không bao giờ tách rời cuộc sống của con người, người nghệ sĩ chân chính không chỉ phản ánh cái đẹp lãng mạn như chiếc thuyền ngoài xa mà phải phản ánh được chiều sâu của cái đẹp trong cuộc sống và con người.

*Liên hệ với cảnh cho chữ trong Chữ người tử tù (0,5 điểm)

– Cảnh cho chữ là một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Cảnh cho chữ được nhà văn khắc họa đầy ấn tượng, dưới ánh sáng đỏ rực của bó đuốc, một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng đang dậm tô những nét chữ trên tấm lụa trắng: quản ngục và thơ lại thì run run bế chậu mực, khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ…

– Sau khi cho chữ, Huấn Cao còn đưa ra lời khuyên bảo chí tình với viên Quản ngục: Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay đổi chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lua trắng với những nét chữ vuông tươi tắn,…

+ Cảnh cho chữ thể hiện quan niệm của Nguyễn Tuân về cái đẹp. Cái đẹp và thiên lương cao cả có thể được sinh ra và tỏa sáng cả những nơi tăm tối, nơi mà cái xấu, cái ác ngự trị. Cái đẹp là bất diệt. Cái đẹp sẽ thanh lọc tâm hồn con người. Nó mãi mãi là một lí tưởng nhân văn cao cả.

*Quan niệm về cái đẹp, về nghệ thuật của mỗi nhà văn (0,5 điểm)

– Nét tương đồng: Cả hai nhà văn đều quan niệm cái đẹp phải gắn liền với cái thiện.(bản thân của cái đẹp chính là đạo đức; cái đẹp gắn liền với thiên lượng lành vững)

– Nét khác biệt:

+ Với Nguyễn Tuân, cái đẹp có thể sinh ra từ chốn ngục tù, nơi cái xấu, cái ác ngư trị, nhưng cái đẹp là một phạm trù tách bạch, đối lập hoàn toàn với cái lem luốc của cuộc đời.

+ Với Nguyễn Minh Châu, cái đẹp hòa lẫn trong cuộc đời xù xì, lâm láp và còn nhiều ngang trái đớn đau. Cái đẹp đích thực không bao giờ tách rời cuộc sống đời thường, người nghệ sĩ chân chính phải biết nâng niu cái đẹp đó, để nó có thể tỏa sáng ngay cả trong bóng tối của sự khổ đau.

* Đánh giá chung: Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Tuân thể hiện quan niệm riêng về cái đẹp, về nghệ thuật. Quan niệm ấy thể hiện nét đẹp tâm hồn và tài năng của họ. (0,25 điểm)

d) (0,25 điểm) Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

e) (0,25 điểm) Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo đúng quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Để củng cố thêm kiến thức môn Ngữ Văn các bạn thí sinh có thể tham khảo thêm một số tài liệu ôn thi thpt quốc gia môn Văn sau đây:

Tuyển tập 30 đề nghị luận văn học dạng so sánh ôn thi THPT quốc gia 2018

11 đề tham khảo môn Văn chốt thi THPT Quốc gia 2018

Tổng hợp kiến thức những tác phẩm văn học sẽ có trong đề thi THPT quốc gia 2018

Có thể bạn quan tâm

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button