Điện Tử Cơ Bản

So sánh điôt bán dẫn và tranzito

So sánh điôt bán dẫn và tranzito : Diode và tranzito là các công tắc điện tử bán dẫn hầu hết được sử dụng trong mọi thiết bị điện tử. Ngoài ra, chúng khá khác nhau về mọi mặt.

Trước khi đi vào So sánh điôt bán dẫn và tranzito, chúng ta sẽ thảo luận về những điều cơ bản của chúng.

Chất bán dẫn loại P và loại N được sử dụng để chế tạo diode và tranzito. Chất bán dẫn có sẵn ở dạng (tinh khiết) trong đó số lượng điện tích dương (lỗ trống) và điện tích âm (điện tử) là như nhau. Chúng được tạo ra ở dạng bên ngoài bằng cách thêm các tạp chất để tăng độ dẫn điện. Khi các tạp chất được thêm vào tinh thể bán dẫn, vật liệu bán dẫn loại P và loại N được hình thành.

Khi một chất bán dẫn được pha tạp với một chất pha tạp có 5 điện tử hóa trị, một vật liệu loại N. được hình thành. Chất bán dẫn như vậy có các electron tự do trong vỏ hóa trị của chúng. Các electron này tự do chuyển và đóng vai trò như một hạt tải điện. Do sự có mặt của số lượng điện tử cao hơn, chúng được đặt tên là hạt tải điện đa số. Trong khi các lỗ trống là các hạt mang điện thiểu số.

Bằng cách pha tạp chất bán dẫn với một chất pha tạp có 3 điện tử hóa trị tạo thành vật liệu loại P. Vật liệu như vậy có thể nhận hoặc hút electron. Do đó, vật liệu loại P có lỗ. Lỗ trống là sự vắng mặt của các electron. Do phần lớn các lỗ trống, chúng là hạt tải điện đa số trong vật liệu loại P và các electron là hạt tải điện thiểu số.

Tiếp giáp PN là ranh giới giữa vật liệu loại P và loại N. Cung cấp điện áp thích hợp giữa các điểm nối này sẽ thu hẹp hoặc mở rộng vùng này để cho phép hoặc chặn dòng điện tích giữa hai lớp.

Bài liên quan:

Diode là một công tắc chuyển mạch bán dẫn làm từ sự kết hợp của hai lớp vật liệu P và N. Chỉ có một mối nối PN trong một diode và có hai đầu cực là Anode và Cathode.

Diode có hai chế độ hoạt động tức là phân cực thuận và phân cực ngược. Trong phân cực thuận, cực dương được cung cấp điện áp cao hơn cực âm. Điều này dẫn đến lực hút giữa tiếp giáp PN làm cho hạt tải điện dễ dàng di chuyển giữa chúng. Do đó, trong chế độ phân cực thuận, diode dẫn. Trong khi phân cực ngược, điện áp Cathode cao hơn anode, dẫn đến việc kéo đứt lớp tiếp giáp PN tạo ra vùng nghèo do đó phá vỡ đường dẫn dòng điện tích. Do đó, diode chặn dòng điện.

Diode là một công tắc một chiều cho phép dòng điện chỉ theo một hướng và chặn nó theo hướng ngược lại. Do đó nó hầu hết được sử dụng trong việc chỉnh lưu AC thành DC. Tuy nhiên, nó cung cấp sự chỉnh lưu không kiểm soát được tức là không thể kiểm soát được nguồn điện được chỉnh lưu.

Diode có nhiều loại khác nhau và mỗi loại được sử dụng cho mục đích đặc biệt của nó. Một số loại này là. Đi-ốt phát quang (LED), Đi-ốt quang, Đi-ốt Zener, Đi-ốt Avalanche, Đi-ốt Laser, Đi-ốt PIN, Đi-ốt Varactor và Đi-ốt Esaki.

Diode có một loạt các ứng dụng được sử dụng trong điện tử. Một số ứng dụng này là chỉnh lưu, Cắt và kẹp điện áp, Bảo vệ mạch, Điều chỉnh và nhân điện áp, nguồn sáng, v.v.

Điều cần biết:   Tên của Diode có nguồn gốc từ sự kết hợp của hai từ tức là Di (từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Hai”) và Ode là một dạng ngắn gọn của điện cực = Diode. Nói cách khác, một diode có hai điện cực là Anode và Cathode chỉ cho phép dòng điện chạy theo một hướng được gọi là phân cực thuận. Một diode cung cấp điện trở cao theo một hướng trong khi mặt khác nó có điện trở thấp. Đó là lý do tại sao nó chỉ có thể cho phép dòng điện chạy theo một hướng duy nhất.

Transistor – So sánh điôt bán dẫn và tranzito

Transistor là một linh kiện bán dẫn được làm từ 3 lớp vật liệu loại P và loại N. xen kẽ nhau. Nói cách khác, kiểu P bị kẹp giữa hai kiểu N hoặc ngược lại. Hoặc bạn có thể nói rằng một Transistor được làm từ hai điốt ghép lại với nhau. Như vậy Transistor có hai loại dựa vào cấu tạo của nó tức là Transistor PNP và Transistor NPN . Loại Transistor phụ thuộc vào cấu tạo của nó và cũng ảnh hưởng đến loại hạt tải điện đa số trong đó.

Từ Transistor là sự kết hợp của hai từ “chuyển giao” và “điện trở” có nghĩa là “chuyển giao điện trở”. Hoạt động của nó dựa trên sự chuyển giao điện trở giữa các cực của nó (từ mạch này sang mạch khác) để cho phép hoặc khuếch đại điện tích giữa chúng.

Hình dưới đây cho thấy cấu trúc và cách biểu diễn ký hiệu của một bóng bán dẫn.

Transistor có 3 cực được đặt tên là Emitter, Collector và Base. Có 2 điểm nối pn trong một Transistor . Cực E và cực C được làm bằng cùng một loại vật liệu bán dẫn. Tuy nhiên, cực E được pha tạp nhiều so với cực C để tạo ra nhiều hạt mang điện hơn.

Nếu một Transistor được phân cực thích hợp (áp dụng tín hiệu ở cực B), nó sẽ bắt đầu dẫn các hạt tải điện đa số giữa E và C. Tuy nhiên, tín hiệu ở cực B là liên tục và không được loại bỏ trong quá trình hoạt động. Một Transistor không dẫn điện trong trường hợp không có tín hiệu ở cực B.

Do đó, một Transistor có 3 vùng hoạt động tức là vùng tích cực, vùng cắt và vùng bão hòa. Vùng tích cực được sử dụng để khuếch đại trong khi vùng cắt và vùng bão hòa được sử dụng để chuyển mạch.

Transistor bắt đầu dẫn điện khi điểm tiếp giáp B-E có phân cực thuận và tiếp giáp C-B có phân cực ngược. Do đó, nó cần hai nguồn điện áp để hoạt động.

Transistor là một linh kiện hoạt động và cần một nguồn năng lượng phụ để xử lý tín hiệu đầu vào. Trong khi, diode chỉ hoạt động trên tín hiệu đầu vào. Tuy nhiên, Transistor có thể chuyển đổi BẬT và TẮT theo lệnh.

Điều cần biết:   Tên của Transistor có nguồn gốc từ sự kết hợp của các từ kéo tức là Chuyển và Điện trở = Transistor. Nói cách khác, một bóng bán dẫn chuyển  điện trở  từ đầu này sang đầu kia. Tóm lại, một bóng bán dẫn có điện trở cao ở phần đầu vào trong khi điện trở thấp ở phần đầu ra.

Từ gốc tiếng Hy Lạp di, nghĩa là “hai”, và ode, một dạng rút gọn của “điện cực”.

Transistor chủ yếu được sử dụng để khuếch đại tín hiệu nhỏ , bộ khuếch đại âm thanh , chuyển mạch , v.v.

So sánh điôt bán dẫn và tranzito

Bảng so sánh sau đây cho thấy sự khác biệt chính giữa một diode và một bóng bán dẫn.

Diode Bóng bán dẫn
Một thiết bị bán dẫn cho phép dòng điện chạy theo một hướng. Linh kiện bán dẫn có khả năng đóng cắt và truyền điện áp giữa đoạn mạch có điện trở thấp và đoạn mạch có điện trở cao.
Diode được làm bằng hai lớp bán dẫn loại P và loại N. Nó được làm bằng 3 lớp vật liệu bán dẫn xen kẽ (PNP và NPN).
Nó có hai cực là cực dương và cực âm. Nó có ba cực là emitter, base và collector.
Diode có nhiều loại như LED, Photodiode, Zener diode, Tunnel, Varactor, v.v. Transistor có hai loại chính là Bipolar Junction (BJT) và Transistor hiệu ứng trường (FET).
Chỉ có 1 lớp tiếp giáp PN. Có 2 lớp tiếp giáp PN tức là các điểm giao nhau E-B và B-E.
Nó chủ yếu được sử dụng để chỉnh lưu AC thành DC. Nó chỉ được sử dụng để chuyển mạch và khuếch đại.
Nó là một công tắc một chiều. Nó là một công tắc cũng như một bộ khuếch đại.
Nó thực hiện Chuyển đổi không kiểm soát. Transistor có thể thực hiện chuyển mạch có điều khiển bằng cách sử dụng tín hiệu cực B.
Diode chỉ có một vùng nghèo. Transistor có hai vùng nghèo.
Diode là một linh kiện  thụ động. Transistor là một linh kiện tích cực.
Nó chỉ cần một nguồn điện áp để hoạt động. Nó cần hai nguồn điện áp để hoạt động.
Điốt được sử dụng cho nhiều mục đích như chỉnh lưu, cắt, kẹp, bảo vệ, nhân điện áp, điều chỉnh điện áp, v.v. Nó được sử dụng để chuyển mạch và khuếch đại. Sử dụng tốt nhất trong các ứng dụng tần số cao.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button
You cannot copy content of this page